Hiện thực trong các thiết kế cho người sử dụng

Quá trình phát triển của thiết kế thẩm mỹ có thể coi như sự biến đổi theo hướng càng ngày càng hiện thực (realsm).

Khi máy tính đã trở thành một công cụ không thể thiếu của các nhà thiết kế, các hiệu ứng ngày càng có nhiều chi tiết thực tế như màu sắc, hiệu ứng 3D, bóng đổ, mờ… Iphone là ví dụ của việc giao diện được thiết kế thân thiện với người sử dụng.

Trong các mọi lĩnh vực, cải tiến là câu trả lời tốt nhất. Giao diện đồ họa cho người dùng hiển thị đầy những biểu tượng. Hầu hết các yếu tố đồ họa bạn nhìn thấy trên màn hình đều đại diện cho một ý tưởng hay một khái niệm.

Ngôi nhà nhỏ trên máy tính không có nghĩa là một ngôi nhà, nó là “home”. Hình ảnh con mắt không phải là con mắt, mà nó là có nghĩa là “nhìn vào những yếu tố được lựa chọn”. Các bánh răng không có nghĩa liên quan tới cơ khí, nó cón nghĩa là xem những cài đặt có sẵn…

Chi tiết và yếu tố hiện thực có thể lấy từ những khái niệm ban đầu. Để giải thích điều này, chúng ta sẽ lấy một trang sách của Scott McClound, Hiểu về hoạt hình (Understanding Comics). Một cuốn sách nên đọc với tất cả các nhà thiết kế.

Hình ảnh bên trái là một gương mặt cụ thể. Những hình ảnh bên phải là về khái niệm “khuôn mặt”, nó có thể là của bất kỳ ai.

Khi thiết kế giao diện người dùng, chúng ta hiếm khi muốn hiện thị một thực tế cụ thể, thông thường, chúng ta muốn truyền đạt một ý tưởng. Chọn chi tiết để thiết kế, có thể dễ dàng lấy từ những ý tưởng và khái niệm.

Tuy vậy nó cũng yêu cầu một số chi tiết bắt buộc. Vì nếu các chi tiết quá ít người sử dụng có thể không nhận ra ý tưởng của biểu tượng.

Các vòng tròn bên trái cho thấy một khuôn mặt. Các vòng tròn bên phải không thể nhận ra nó có là một khuôn mặt không.

Chúng ta tiếp tục nhìn vào biểu tượng Home trong giao diện người dùng. Thông thường nó là một ngôi nhà nhỏ.

Bên trái chúng ta có một ngôi nhà thực tế, bên phải chúng ta có một định nghĩa là “nhà”. Một nơi nào đó giữa hai yếu tố, ý nghĩa về một ngôi nhà thực sự đã chuyển qua là một khái niệm về ngôi nhà (nơi chứa mọi thứ).

Một cái gì đó hiện thực hơn có thể khó khăn trong việc nhận ra ý nghĩa. Tiếp tục đơn đơn giản hóa quá nhiều biểu tượng ngôi nhà, chúng ta không thể nhận ra nó nữa.

Bên trái là nút Home, bên phải có thể là một mũi tên.

Hãy sử dụng một đồ thị để hiểu rõ hơn.

Người dùng có thể nhầm lẫn các ký hiệu nếu chúng có quá nhiều hoặc quá ít chi tiết. Họ sẽ nhận ra ý nghĩa của nó nếu nó nằm ở khoảng giữa của quá trình.

Bí quyết là cần tìm ra các chi tiết quan trọng giúp cho người dùng xác định các yếu tố giao diện, và các chi tiết có thể đánh lạc hướng ý nghĩa của nó.

Một số chi tiết có thể giúp người dùng tìm thấy ngay những gì họ đang tìm kiếm, và cách họ sẽ tương tác với nó. Một số khác có thể khiến họ xao lãng những thứ bạn đang cần truyền đạt.

Một yếu tố nếu quá khác biệt với thực tế cuộc sống, sẽ khiến nó quá khó để nhận ra. Mặt khác nó quá giống thực tế, người ta không thấy bạn đang cố gắng giao tiếp với họ một cách dễ dàng nhất.

Nút bên trái là sự thực, nút bên phải khó nhận ra là một button ngay lập tức.

Điều tương tự cũng áp dụng với các công tắc. Những phần bóng và độ lồi lõm giúp người dùng biết cách tương tác với công tắc. Tuy nhiên nếu để như vậy lại không gây ấn tượng với giao diện người dùng. Và bên trái là một thiết kế quá đơn giản để có thể hiểu nó là cái gì.

Ngoại lệ

Vẫn có những ngoại lệ về việc thêm các chi tiết thực tế. Đó là một số biểu tượng ứng dụng mà bạn muốn ngay lập tức nói lên ý tượng cụ thể.

Một chiếc lá rất thật, nó chỉ là một chiếc lá chứ không có ý nghĩa nào sâu xa phía sau. Một ý tưởng cụ thể cần một biệu tượng cụ thế với nhiều chi tiết được thêm vào.

Kết luận

Giao diện đồ họa đầy những biểu tượng. Biểu tượng cần được đơn giản để đạt tới bản chất của nó. Điều này giúp cho người dùng không bị phân tán bởi những điều vô nghĩa và giúp người ta dễ dàng “đọc” và hiểu rõ ý nghĩa bên trong mỗi biểu tượng.

Mục tiêu của chúng ta không phải khiến giao diện cho người dùng giống thật nhất có thể. Mục đích là thêm, bớt các chi tiết quan trọng để người dùng dễ dàng xác định ý nghĩa, và cách nó tương tác.

Giao diện người dùng truyền đạt các khái niệm thông qua các biểu tượng trừu tượng, những không mất đi những chi tiết liên quan tới mục đích sử dụng. Chúng hiếm khi đại diện cho yếu tố thực, hiện thực quá mức có thể gây nhầm lẫn, cũng như nếu chúng quá đơn giản.

source: iDesign.vn

Wolfgang Weinart – Nhà thiết kế có tầm ảnh hướng lớn

Vừa là nhà thiết kế vừa là giảng viên, Wolfgang Weinart được biết tới bởi những khám phá về Typographic của mình và công tác giảng dạy tại Schule für Gestaltung Basel, và đồng thời cùng các sinh viên tạo ra phương pháp thực nghiệm và tiếp cận tới typography có ảnh hưởng toàn thế giới.

Từ 2004, căn phòng G102 tại Schule für Gestaltung ở Basel, Thụy sĩ là nơi đặt xưởng chữ. Căn phòng hoàn hảo, và tuyệt đẹp được lát gỗ, chứa trong nó hàng ngàn ngăn kéo chứa các chữ cái trong tình trạng nguyên sơ và ba 3 máy ép chữ.

Bức tường phía bắc được làm bởi kính, nhìn ra một khu vườn kiểu Pháp, bên cạnh một bãi cỏ của một trường học kế bên. Đó là căn phòng mà người thiết kế chữ và nhà thiết kế Thụy Sĩ, Emil Ruder, và sau này là Wolfgang Weingart, đã dạy typography cho không chỉ các sinh viên Thụy sĩ học nghề, mà còn cả những nhà thiết kế quốc tế hành hương tới để học bộ môn yêu thích.

Weingart sinh ra gần biên giới giữa Thụy sĩ và Đức, ở thung lũng Salem vào năm 1941. Ông ghi danh vào một khóa học 2 năm về thiết kế tại Merz Academy tại Stuttgart năm 1958.

Tại đó, ông khám phá in ấn, và ông bắt đầu sắp xếp những khuôn chữ kim loại đầu tiên năm 17 tuổi. Sau khi tốt nghiệp ông làm công việc như một ngươì thợ sắp chữ in ấn tại Ruwe Printing tại Stuttgart, nơi ông gặp kiến trúc sư Karl-August Hanke, một cựu sinh viên của trường Thiết kế Basel.

Ngay lập tức Hanke trở thành một cố vấn sự nghiệp cho Weingart khi đó còn trẻ tuổi, giới thiệu với ông các thiết kế bên ngoài nước Đức, đặc biệt là tại Thuỵ sĩ, nơi Ruder, Armin Hofman và Karl Gerstner đang làm việc và sẽ trở thành cái được mang tên Phong Cách Quốc tế (International Style).

Cho dù các bằng chứng của phong cách Thụy sĩ đã xuất hiện trên các mẫu tiêu đề thư đơn giản và các thiết kế danh thiếp mà Weingart đã thiết kế trong suốt thời gian ông ở Ruwe, tuy nhiên chúng thường ngẫu nhiên, bất cẩn và không nằm trong các giới luật của phong cách thiết kế Thụy Sĩ thời đó.

Vào năm cuối cùng của khóa học 3 năm, Weingart đã phát triển sự nhạy cảm với mối quan hệ giữa in ấn và những trải nghiệm thiết kế. Hanke khuyến khích ông đi học trường Thiết kế Basel (Basel school of Design) và Weingart du lịch tới đó năm 1963, nơi ông gặp Hofman và Ruder và nộp đơn tới các vị này. Những năm tiếp theo ông ghi danh như một sinh viên độc lập.

Mãi cho tới năm 1968 khi mà Hofman và Ruder nhận ra mục tiêu của họ trong việc tạo ra một trương chình thiết kế đồ họa cao cấp cho các chuyên gia sau khi tốt nghiệp tại Base School, trong đó một nhóm có thể tham gia vào các dự án đa ngành chuyên sâu nhằm trau dồi kỹ năng và tăng cường khả năng tham gia của trí tuệ và thiết kế.

Bằng một bước đi táo bạo, Hofmann mời chàng trai 27 tuổi Weingart, người gần như vô danh để gây dựng lớp học về Typography khiến các nhà thiết kế từ khắp thế giới đổ xô về tham gia chương trình.

Tại đây, Weingart cảm thấy như ở nhà với các khóa học về chữ ở trường – nó như là một phòng thí nghiệm và cũng là các lớp học và nó là nơi ông thực hiện các phép thuật của mình.

Những kinh nghiệm ông có được trong suốt thời gian tập sự được tăng cường. Ông sử dụng những thước kim loại cong, tạo ra các tác phẩm sắp đặt tròn nhúng trong thạch cao.

Ông trải nghiệm với những sắp đặt các mẫu chữ hình học đan xen lấy cảm hứng từ những kiến trúc bằng đá cổ tại Trung Đông, nơi ông lần đầu tiên đi du lịch vào đầu năm 1960. Lớp học của ông trở thành một xưởng làm việc để thử nghiệm và mở rộng những mô hình của typography mới.

“Tôi được thúc đẩy để tạo thêm cảm hứng cho cái nghề tẻ nhạt này và để kéo cái lớp học chữ này tới điểm cuối cùng.” Weingart diễn giải trong cuốn Weingart: Typography – My Way to Typography, xuất bản bởi Lars Müller năm 2000.

Ông tiếp tục mô tả cảm xúc trải nghiệm của thời đại: “Được tiếp thêm động lực bởi sự bất ổn xã hội, áp lực suy giảm của Swiss Typography lên các thiết kế quốc tế. Các sinh viên của tôi được tạo cảm hứng, chúng tôi bước vào một cái gì đó hoàn toàn khác, và chúng tôi biết rõ nó.”

Trong suốt 37 năm đứng lớp, các sinh viên có tên tuổi của Weingart gồm April Greiman, Jim Faris, Franz Werner, Robert Probst, Jerry Kuyper và Emily Murphy.

Quy trình thiết kế mà ông thực hiện vô cùng đơn giản; Đầu tiên các sinh viên được đề nghị suy nghĩ về kích thước phù hợp, trọng lượng (weight) và kiểu của chữ mà họ muốn sử dụng. Họ sẽ tự xếp chữ bằng cách nhặt những chữ cái riêng biệt từ những ngăn đựng chữ và đặt chúng cạnh nhau một cách cẩn thận trong một cái khuôn.

Họ phải xác định không gian giữa các chữ, khoảng cách giữa các dòng. Khi hoàn thành, chúng được in theo kỹ thuật dập nổi và làm khô bằng phấn trẻ em.

Sinh viên sau đó cắt chúng làm nhiều phần và bắt đầu thiết kế. Để loại bỏ phần bóng đen của giấy cắt và nhìn các sắp xếp của họ như trên một mặt phẳng, một miếng kính được đặt lên bề mặt. Nếu có gì đó không ổng – kích thước của chữ, trọng lượng, style – toàn bộ phần sắp đặt và in ấn được lặp lại.

“Chúng tôi được học về cách sắp xếp, hệ thống và cấu trúc trong lớp của ông ấy,” Terry Irwin người đứng đầu trường thiết kế tại Carnegie Mellon University, Cô từng học lớp của Weingart từ 1983 tới 1986.

“Nhưng ông ấy không dạy chúng tôi về tất cả. Đó là cái mà tôi nghĩ là vẻ đẹp của giáo dục tại Basel. Thay vào đó các sinh viên được khuyến khích tham gia và quá trình phát minh.”

“Bạn sẽ phải gắn các phác thảo lên bàn, và bạn cố gắng thử cái này ở đây, cái kia ở đây và sau đó di chuyển xung quanh chỗ này.” Cô giải thích. “Ông ấy sẽ đi xung quanh và nói bạn cảm hứng mà nó đem lại, vì vậy bạn sẽ cố gắng để tìm ra nó có nghĩa gì.

Và bạn lại di chuyển thêm một chút – hoặc có thể vẫn bối rối – và ông ấy lại tới và nói ‘Ừ, nó đã tốt hơn.’ Và sau đó ông ấy có thể bỏ đi. Và bạn cần cố gắng tìm ra tại sao nó tốt hơn. Nhưng khi bản thân bạn thực sự hiểu được cái “tại sao” đó … nó thực sự rất có hữu ích và có hiệu quả để học.

Trong khi dạy học, Weingart vẫn tiếp tục thử nghiệm chính mình trong các tác phẩm; áp phích, thiết kế bìa tạp chí. Một áp phích năm 1976 ông đã thiết kế và in cho nhiếp ảnh gia John Glagola bao gồm các thanh được phủ bạc trên tên của nghệ sĩ.

Weingart tiên quyết tìm kiếm những cách tạo ra hình ảnh, áp dụng kỹ thuật ảnh nửa tông (halftone) và benday (kỹ thuật xếp các điểm màu tròn gần nhau hoặc chồng lên nhau) được sử dụng trong quá trình quang cơ như là một công cụ mới để tạo dựng hình ảnh giữa những năm 1970.

Ông tự hào rằng quá trình thiết kế của mình hoàn toàn dựa vào các kỹ thuật sử dụng phim và các màu chồng chéo (overlap color). Tác phẩm được thấy phổ biến nhất có lẽ là tác phẩm cho Basel Kunskredit – một áp phích đen trắng được thiết kế trong khoảng thời gian 1976 – 1979 và một loạt áp phích màu được thực hiện giữa các năm 1980 và 1983.

Thông qua các trải nghiệm của mình, Weingart phát minh ra ngôn ngữ hình ảnh của chính ông. Như người đồng nghiệp Gregory Vines từng viết: 

“Ông ấy theo đuổi một ý tưởng cho tới khi ông chắc chắn rằng nó có hiệu quả hoặc không.” Từ một người thợ sắp chữ, người in ấn và một nhà phát minh, Weingart cho ra đời các tác phẩm hoặc áp phích từ lúc bắt đầu tới khi kết thúc bằng chính mình.

Ông ấy chọn cách tham gia toàn bộ quá trình, từ chuẩn bị ý tưởng tới chuẩn bị các lớp phim để in… Khi nhìn qua máy ảnh hoặc khi đang phát triển phim, những ý tưởng mới và khả thi trở nên rõ ràng, thậm chí là những sai lầm nhưng tạo ra những điều kỳ lạ.

Lloyd Miller, người học với Weingart vào đầu những năm 1980 lưu ý

“Ông ấy là một bậc thầy và một nghệ sĩ trong lĩnh vực này… Phương pháp làm việc của Weingart là sự tổng hợp của sự không giới hạn của các chương trình phần mềm (ví dụ như Adobe Illustrator hay Photoshop).”

Tuy nhiên Weingart không bao giờ quên đào sâu kinh nghiệm trong việc xếp chữ tay (hand-setting type). Ông mang tới sự rõ ràng và cấu trúc có chiều sâu trong cuốn sách Creative Jewelry năm 1974 và bộ sưu tầm Art Basel năm 1980.

Thông qua những phát minh, ông thậm chí còn tìm cách áp dụng điểm mạnh của mình bằng cách bóp méo chữ viết tay, để đưa nó vào một mẫu của typography trong áp phích thông báo triển lãm các nhân năm 1990, tại Viện Công Nghệ Kỹ Thuật Mới tại Darmstadt, Đức.

Những khi làm việc cuối tuần tại trường dạy chữ, Weingart thường xuyên nghe nhạc của các nhà soạn nhạc người Đức như Wagner, Beethoven, Morzart như là cảm hứng để làm việc.

source: LP magazine